Tứ diệu đế – 4 chân lý của Phật giáo

Tứ Diệu Đế (四諦) còn được gọi là  Tứ Thánh Đế (四聖諦) , là nền tảng căn bản của Phật giáo.

Trong đó, chữ “Đế” (諦) có nghĩa là chân lý, vì vậy:

  • Tứ Thánh Đế có nghĩa là bốn chân lý cao quý.
  • Tứ Diệu Đế có nghĩa là bốn chân lý cốt lõi của giáo lý nhà Phật

Tất cả những gì Đức Phật giảng dạy đều xoay quanh bốn chân lý này.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu Tứ diệu đế – bốn chân lý trong Phật giáo là gì, cũng như phân tích từng phần một cách dễ hiểu nhất.

T Diệu Đế là gì?

Bốn chân lý trong Tứ Diệu Đế chính là nguyên nhân và kết quả của khổ đau, nguyên nhân và kết quả của hạnh phúc.

Những gì Đức Phật giảng dạy đều xoay quanh bn chân lý này, không có gì ngoài điều đó.

Giáo lý nhà Phật dựa trên nguyên tắc nhân quả:

  • Mi kết qu đu có nguyên nhân.
  • Mi kh đau trong cuc đi đu có nguyên nhân.
  • Hnh phúc cũng có nguyên nhân ca nó.

Vì vậy, những nỗi khổ trong cuộc đời không tự nhiên xuất hiện mà đu có nguyên nhân sâu xa. Cũng giống như vậy, đ đt được hnh phúc, cn có nhng nguyên nhân thích hp.

Bốn chân lý này được kinh điển ghi chép như sau:

“Có bn chân lý cao quý: Kh Đế, Tp Đế, Dit Đế, Đo Đế.”

  • Kh Đế …… Chân lý rằng “cuộc đời là khổ”.
  • Tp Đế …… Chân lý vạch rõ nguyên nhân của khổ đau.
  • Dit Đế …… Chân lý vạch rõ hạnh phúc chân thật.
  • Đo Đế …… Chân lý vạch rõ con đường dẫn đến hạnh phúc chân thật.

Tứ diệu đế này còn được gọi là “Khổ Tập Diệt Đạo” bằng cách lấy chữ cái đầu của Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế.

Gii thích v T Diệu Đế bng ví d y hc

Để giúp mọi người dễ hiểu hơn về T Diệu Đế, Đức Phật đã ví nó như cách một thy thuc chữa bệnh. Trong Tp A-hàm Kinh (雑阿含経), Đức Phật giảng như sau:

“Có bn điu kin đ tr thành mt v danh y chân chính.”
1) Biết rõ v bnh.
2) Biết rõ nguyên nhân gây bnh.
3) Biết rõ cách cha bnh.
4) Biết rõ khi nào bnh đã khi và không tái phát.”

(Trích t Tp A-hàm Kinh)

Cũng như một vị danh y giỏi cần hiểu rõ bn yếu t trên, một bậc Như Lai (如来), người đã đạt đến Đng Chánh Giác (等正覚), cũng sử dụng T Diệu Đế để “chữa trị” nỗi khổ đau của chúng sinh.

  • Kh Đế (苦諦) tương đương với vic nhn din triu chng bnh.
  • Tp Đế (集諦) tương đương với vic xác đnh nguyên nhân gây bnh.
  • Dit Đế (滅諦) tương đương với trng thái khi bnh hoàn toàn.
  • Đo Đế (道諦) tương đương với phương pháp điu tr đúng đn.

Ví d: Chn đoán bnh

Khi một người bị bệnh, bước đầu tiên khi đến bệnh viện là chn đoán triu chng.

Ví dụ: Nếu một người có sốt cao, chóng mặt, chảy nước mũi, ho, đau nhức toàn thân, bác sĩ sẽ chẩn đoán rằng đó là bệnh cảm cúm.

Tương tự, Kh Đế chính là nhn din các kh đau trong cuc sng, giống như cách bác sĩ nhận diện triệu chứng bệnh.

Khi một người bị sốt, chóng mặt hay mệt mỏi, những triệu chứng đó không t nhiên xut hin, mà đu có nguyên nhân.

Trong Phật giáo, chân lý v nguyên nhân ca kh đau được gọi là Tp Đế (集諦).

Tp Đế – Nguyên nhân ca kh đau

Bệnh tật không tự nhiên sinh ra mà có nguyên nhân gây bnh. Nếu tìm ra nguyên nhân, ta có thể điều trị nó tận gốc.

Tương tự, tt c kh đau trong cuc sng đu có nguyên nhân. Chúng ta phải nhận diện đúng gc r ca đau kh để có thể giải quyết chúng triệt để.

Dit Đế – Trng thái khi bnh

Người b bnh bm sinh chưa từng trải qua cảm giác khỏe mạnh, nên họ không th hình dung được hnh phúc ca mt cơ th khe mnh. Vì vậy, họ cần được chỉ ra thế nào là mt trng thái khe mnh thc s.

Cũng giống như vậy, chúng sinh đã trôi lăn trong đau kh t vô lượng kiếp, chưa từng biết đến trng thái gii thoát hoàn toàn. Vì vậy, Đức Phật dạy rằng có mt trng thái hoàn toàn không còn kh đau, đó là Dit Đế (滅諦) – tức Niết Bàn.

Đo Đế – Phương pháp cha bnh

Sau khi biết bnh có th cha khi, bước tiếp theo là tìm phương pháp điu tr đúng đn.

Phật giáo cũng vậy, con đường đ đon tr kh đau và đt đến Niết Bàn chính là Đo Đế (道諦). Đây là phương pháp tu tp đúng đn giúp con người giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

ng dng T Diệu Đế vào đi sng

Không chỉ dùng để giải thích kh đau trong sinh t, mà T Diệu Đế còn có thể áp dụng vào bất kỳ lĩnh vực nào trong cuộc sống.

Ví dụ: Nếu bạn có mt ước mơ hay lý tưởng, nhưng hiện tại chưa thc hin được, điều đó có nghĩa là gia thc tế và lý tưởng có mt khong cách.

  • Kh Đế → Hiện tại bạn chưa đạt được mục tiêu (thực trạng khó khăn).
  • Tp Đế → Nguyên nhân vì sao bạn chưa đạt được mục tiêu.
  • Dit Đế → Mục tiêu và trạng thái khi đạt được mục tiêu.
  • Đo Đế → Phương pháp cụ thể để đạt được mục tiêu.

Vậy, Đức Phật đã dạy những gì trong từng phần của T Diệu Đế? Hãy cùng tìm hiểu chi tiết hơn.

1 Kh Đế là gì?

Bn cht tht s ca cuc đi

Phật giáo dạy rằng trước tiên, con người phi đi din vi thc ti.

Ví dụ, nếu bn đang mc n, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy đau kh.

Khi thực tế quá khắc nghiệt, một số người c trn tránh nó, chẳng hạn như ung rượu đ quên đi ni lo.

Tuy nhiên, trn tránh thc tế không làm mt đi món n.

Ngược lại, theo thời gian, tình hình có th tr nên ti t hơn.

Muốn thoát khỏi gánh nng n nn, trước hết, bn phi nhìn thng vào s tht rng mình đang mc n. Nếu không làm được điều đó, bạn s không th tìm ra gii pháp.

Vì vậy, Phật giáo dạy rằng điu đu tiên cn làm là nhìn nhn thc tế cuc đi.

Đây chính là Kh Đế (苦諦).

Kh Đế – Chân lý v kh đau

“Kh Đế” có nghĩa là “Cuc đi là kh” – tt c mi người đu phi đi mt vi đau kh và phin não.”

Có thể có người sẽ phản biện:
“Nhưng tôi thy cuc sng cũng có nhiu nim vui mà?”

Tuy nhiên, nim vui đó thc cht là gì?

Phật giáo dạy rằng nhng nim vui trong cuc đi ch là s tha mãn dc vng.

s tha mãn dc vng cui cùng cũng s dn đến kh đau.

Ngoài ra, trong 62 loi tà kiến được gọi là Lc Thp Nh Kiến (六十二見), có một quan điểm gọi là Hin Pháp Niết Bàn (現法涅槃).

Ngoại đo (外道) có nghĩa là những giáo lý đi chch khi chân lý.

Một trong những quan điểm của ngoại đạo này cho rằng:
“Ch cn tha mãn năm dc (五欲), con người có th đt được Niết Bàn ngay trong hin ti.”

Nói cách khác, đây là quan niệm cho rng s tha mãn dc vng chính là hnh phúc thc s.

Tuy nhiên, đây không phi là chân lý.

Phật giáo dạy rằng s tha mãn dc vng không th mang li hnh phúc chân tht.

Cuc sng vn dĩ là kh?

Ngược lại, khi nghe câu “Đi là kh, có người có thể nghĩ:
“Chuyn đó ai mà không biết?”

Tuy nhiên, ngay cả những người đã biết rõ điu này, họ vẫn có suy nghĩ như sau:

  • “Nếu có nhiu tin hơn, tôi s hnh phúc…”
  • “Nếu được mi người kính trng, tôi s hài lòng…”
  • “Nếu được làm công vic mà tôi yêu thích, tôi s tha mãn…”
  • “Nếu có tình yêu thương bao bc, tôi s mãn nguyn…”
  • “Nếu tôi có được th đó, tôi s hnh phúc…”
  • “Nếu tôi có th làm điu đó, tôi s cm thy trn vn…”

Họ tin rằng đâu đó trên con đường này s có hnh phúc, nên cả cuộc đời h dc hết sc chy theo nhng điu đó.

Nhưng thực chất, chúng ta – những con người còn đầy mê lầm – không nhn ra rng hnh phúc không nm hướng đó.

Vì không nhận ra s tht này, chúng ta không thể thoát khỏi khổ đau và cuc đi ngn ngi trôi qua trong u mê.

Nhn thc sai lm v đau kh và hnh phúc

Nếu một người mắc bệnh mà không nhn ra rng mình đang b bnh, thì họ s không có ý đnh cha tr.

Tương tự, nếu con người không nhận ra nguyên nhân khiến h không th thoát khi đau kh, thì họ cũng không th tìm được con đường dn đến hnh phúc chân tht.

Vì vậy, trước tiên, Đức Phật dạy một chân lý bt biến:

“Mi người đu đang chu kh đau.”

Điều này đúng với mi thi đi, mi quc gia, và tt c chúng sinh không có ngoi l.

Kh đau trong cuc sng t xưa đến nay, khp mi nơi

Ví dụ, Tokugawa Ieyasu (1543-1616), người đã thống nhất thiên hạ, đã để lại di huấn như sau:

tu-dieu-de-la-gi-3

Cuc đi con người ging như vác mt gánh nng đi trên con đường dài

(Tokugawa Ieyasu)

Câu nói “Cuc đi con người” thực chất phản ánh cuc đi ca chính Tokugawa Ieyasu.

Tokugawa Ieyasu là người đã thng nht thiên h, tr thành Shōgun (Tướng quân) và đt nn móng cho Mc ph Tokugawa.

Tuy nhiên, ngay cả khi đã đạt đến đỉnh cao quyền lực, ông vẫn không thể đt xung gánh nng ca mình.

“Gánh nng” ở đây chính là kh đau, có nghĩa là ngay cả một người như ông cũng không thể thoát khỏi những nỗi khổ trong cuộc đời.

Vì không thể giải thoát khỏi khổ đau, ông đã phải tiếp tc lê bước trên con đường dài vô tn cho đến tn cui đi.

Nhà văn thiên tài Akutagawa Ryūnosuke (芥川龍之介) cũng tng nói:

tu-dieu-de-la-gi-4

Cuộc đời còn khổ đau hơn cả địa ngục.

(Akutagawa Yunosuke)

Trong Phật giáo, đa ngc là một thế giới đầy rẫy khổ đau.

Tuy nhiên, khi nói “cuc đi còn kh đau hơn c đa ngc”, Akutagawa muốn nhấn mạnh rằng cuc sng này thm chí còn bi thm hơn c nhng đau kh trong đa ngc.

Điều này có nghĩa là, ngay cả khi một người có tài năng phi thường, h vn không th tránh khi nhng ni kh trong cuc đi.

Nhà triết học Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) cũng từng nói:

tu-dieu-de-la-gi-1

Nếu mc đích tn ti ca con người không phi là đ chu kh, thì có l s tn ti ca chúng ta đã hoàn toàn lch khi mc đích đó.

(Arthur Schopenhauer)

Schopenhauer nhấn mạnh rằng kh đau là mt phn tt yếu ca s tn ti.

Nếu con người không sinh ra đ chu kh, thì cuộc sống của họ dường như đi ngược li mc đích vn có, bởi vì ai cũng phải đối mặt với khổ đau không thể tránh khỏi.

Nhà tâm lý học người Áo Sigmund Freud (1856-1939) cũng từng nói:

tu-dieu-de-la-gi-2

“Điu tt nht mà ta có th mong đi trong cuc đi này, có l ch là biến nhng đau kh tt cùng thành nhng bt hnh tm thường.”

(Sigmund Freud)

Freud cho rằng kh đau là điu không th tránh khi trong cuc sng.

Ngay cả khi ta có th làm gim bt kh đau, điều đó cũng không có nghĩa là ta có th hoàn toàn thoát khi nó – mà chỉ đơn giản là thay đi mc đ đau kh t ln thành nh hơn.

Như vậy, bt k phương Đông hay phương Tây, bất kể thời đại nào, mi con người đu phi đi mt vi kh đau.

đâu, dù vào thi đim nào, chân lý “Đi là kh” (人生は苦なり) luôn đúng.

Ni dung c th ca Kh Đế

Vậy, nhng kh đau trong cuc đi là gì?

Những nỗi khổ này được giải thích chi tiết trong T Kh Bát Kh (四苦八苦 – T Kh Bát Kh).

T Kh Bát Kh bao gồm:

  • T Kh (四苦):
    1. Sinh kh (生苦): Khổ vì sinh ra.
    2. Lão kh (老苦): Khổ vì già đi.
    3. Bnh kh (病苦): Khổ vì bệnh tật.
    4. T kh (死苦): Khổ vì cái chết.
  • Bn kh b sung, to thành Bát Kh (八苦):
    5) Oán tăng hi kh (怨憎会苦): Khổ vì phải gặp người mình ghét.
    6) Ái bit ly kh (愛別離苦): Khổ vì chia ly với người thân yêu.
    7) Sở Cầu bất đắc khổ (所求不得苦): Khổ vì không đạt được điều mình mong muốn.
    8) Ngũ thnh ấm kh (五盛陰苦): Khổ vì chấp trước vào thân xác và tâm trí.

Những nỗi khổ này được ghi chép trong kinh điển như sau:

Kh Đế bao gm: Sinh kh, Lão kh, Bnh kh, T kh, Oán tăng hi kh, Ái bit ly kh, S cu bt đc kh, Ngũ thnh ấm kh.

(Trích t Trung A-hàm Kinh (中阿含経 ))

Nhng ni kh này có th tránh được không?

Những nỗi khổ trong T Kh Bát Kh rt d hiu, vì chúng không phân biệt thời đại, quốc gia, địa vị hay hoàn cảnh sống.

Dù một người giàu có, quyn lc, hay được yêu thương bao bc, ch cn sinh ra làm người, họ chc chn s phi tri qua nhng ni kh này.

Ti sao chúng ta cn tìm hiu v kh đau?

Phật giáo giảng dạy con đường đ thoát khi đau kh, nhưng ch khi nào con người nhn thc rõ v nhng kh đau ca cuc đi, h mi thc s khao khát hc Pht.

Nếu một người không cm thy cn thiết phi tìm hiu v Pht giáo, hoặc không h có hng thú vi giáo lý nhà Pht, thì lý do duy nht chính là h chưa nhn ra bn cht thc s ca chính mình.

Điều này không có nghĩa là h không hiu Pht giáo bng lý trí, mà là họ chưa thc s cm nhn nó như mt vn đ ca chính bn thân mình.

Kh đau ln nht trong cuc đi – T kh

Trong 8 ni kh, có câu nói rằng:

“Không có gì đau đn hơn cái chết.”

Cái chết là ni kh ln nht trong cuc đi con người.

Khi cái chết đến gần:

  • Tt c nhng gì ta đã c gng có được phải đ li phía sau.
  • Nhng người ta yêu thương nht cũng phải chia xa mãi mãi.
  • Cuối cùng, ta ra đi mt mình, cô đc đi din vi cái chết.

Và điều quan trọng nhất là:
Không ai có th tránh khi cái chết.

Dù muốn hay không, tt c mi người đu phi đi din vi cái chết, không có ngoại lệ.

Như vậy, dù chúng ta có cố gắng đến đâu, cuối cùng cuộc đời này ch là mt chui đau kh, ri kết thúc bng cái chết.

Ti sao con người phi chu nhng ni kh này?

Lý do ti sao con người phi chu nhng kh đau trong cuc đi được giải thích trong Tp Đế (集諦).

Hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân ca kh đau trong phn tiếp theo.

2. Tập đế là gì?

Ví d: Chn đoán bnh

Khi một người có triệu chứng đau bng, việc đầu tiên cần làm là tìm ra nguyên nhân.

Đau bụng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như:

  • Ăn phi đ ăn hư hng
  • Cm lnh do nm trên nn đt lnh
  • Viêm rut tha
  • Loét d dày
  • Ung thư d dày

Nếu một người b ung thư d dày, nhưng lại t phng đoán sai rằng:
“Chc là do mình ăn phi th gì đó không tt”,
rồi b qua triu chng, thì tình trng bnh s ngày càng nghiêm trng.

Nếu chn đoán sai nguyên nhân, bệnh không nhng không khi mà còn tr nên ti t hơn.

Vì vậy, vic chn đoán chính xác và hiu rõ nguyên nhân gây bnh là điu vô cùng quan trng.

Vai trò ca Tp Đế trong giáo lý Pht giáo

Cũng giống như vậy, Đc Pht đã ging dy chân lý v nguyên nhân ca kh đau, giúp con người hiu rõ vì sao h phi chu kh trong cuc đi này.

Nếu không hiểu đúng nguyên nhân gây kh đau, thì ta s không th tìm ra con đường gii thoát.

Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu Đc Pht đã dy gì v nguyên nhân dn đến kh đau trong cuc sng.

Cuc sng kh đau là do ai?

Vậy tại sao cuộc đời chúng ta lại đầy rẫy khổ đau?

Thông thường, con người hay nghĩ rằng:

  • Do không có tin nên kh.
  • Do công vic không phù hp nên kh.
  • Do không th kết hôn vi người mình yêu nên kh.

Nhưng nếu một người có rt nhiu tin, có công vic mình yêu thích, kết hôn vi người mình yêu, liệu họ có thực sự hạnh phúc không?

Thực tế là:

  • Có tin ri, con người vn ny sinh lo lng và bt an v nhiu th khác.
  • Dù có làm công vic yêu thích, kh đau vn không biến mt.
  • Dù kết hôn vi người mình yêu, nhưng sng hnh phúc mãi mãi ch có trong chuyn c tích.

Ti sao kh đau vn luôn tn ti?

Vậy, ti sao ngay c khi có đy đ mi th, con người vn không th thoát khi kh đau?

Nguyên nhân không phải do:

  • Không có tin bc hay tài sn.
  • Không có con cái.
  • B người khác nói xu.

Nguyên nhân cũng không phải do:

  • Thiếu đa v, danh vng.
  • Thiếu gia đình, v chng, con cái.
  • Thiếu tài năng hay nhan sc.
  • Thiếu s thích hay đam mê.

Như vy, kh đau không đến t s thiếu thn nhng th bên ngoài.

Vậy nguyên nhân thc s ca kh đau là gì?

Đức Phật đã dạy câu tr li trong Tp Đế, và chúng ta sẽ cùng tìm hiểu điều đó trong phần tiếp theo.

Nguyên nhân ca kh đau nm đâu?

Nguyên nhân ca kh đau không nm bên ngoài chúng ta, mà nm bên trong chính bn thân chúng ta.Nói cách khác, kh đau không phi do người khác hay hoàn cnh xã hi gây ra, mà ngun gc thc s ca nó nm trong tâm ca chính chúng ta.人生を苦に染める原因

Nguyên nhân sinh ra kh đau

Về nguyên nhân tạo ra khổ đau, trước tiên Đc Pht đã dy v “Phin não” (煩悩).

Phin não là những thứ khiến con người đau kh và lo âu. Tổng cộng có 108 loi phin não, trong đó có ba loi gây đau kh ln nht, được gọi là Tam Đc (三毒):

  1. Tham (欲 – Dc): Lòng tham muốn vô tận.
  2. Sân (怒 – N): Sự tức giận, oán hận.
  3. Si (嫉 – Đ): Sự đố kỵ, ganh ghét.

Vì sao dc vng khiến con người đau kh?

Những thứ con người khao khát như tin bc, tài sn, đa v, danh vng thực chất đều xuất phát từ lòng tham mun.

Con người luôn muốn:

  • S hu nhiu hơn.
  • Được làm điu mình thích.
  • Được công nhn, được khen ngi.
  • Sng thoi mái, hưởng th.

Tuy nhiên, lòng tham này là vô hn, không có điểm dừng.

Dù có đạt được bao nhiêu, con người vn không bao gi cm thy đ.

Hơn nữa, nim vui khi tha mãn dc vng ch là tm thi, chẳng bao lâu nó s phai nht đi.

Vì vậy, nhng gì con người coi là hnh phúc thc cht ch là th phù du, không bn vng.

C đi chy theo dc vng, cui cùng ta đt được gì?

Dù biết rằng hạnh phúc đến từ s tha mãn dc vng là không bn vng, nhưng con người vn b hp dn mnh m bởi chúng.

Vì vậy, chúng ta c mãi chy theo dc vng, tiêu tốn cả cuộc đời để theo đuổi mt th hnh phúc ngn ngi, mà không một lần tự hỏi điu đó có thc s bn vng hay không.

Nhưng cuối cùng, chúng ta vn phi chết, và khi chết đi, tt c nhng gì đã dày công tích lũy đu phi b li phía sau.

Vậy là con người dành c cuc đi đ theo đui dc vng, nhưng cui cùng li ra đi vi hai bàn tay trng.

Văn minh phát trin có giúp con người bt đau kh?

Tất cả các lĩnh vực như chính tr, kinh tế, khoa hc, y hc đều được phát triển với mục tiêu đáp ng dc vng ca con người.

Tuy nhiên, dù khoa học tiến bộ đến đâu, dù nền kinh tế phát triển như thế nào, kh đau vn không th b xóa b.

Bởi vì ci ngun ca kh đau không nm vt cht hay điu kin bên ngoài, mà nm sâu trong tâm trí ca con người.

Làm sao đ gii thoát khi kh đau?

Ngoài dc vng, con người còn bị chi phối bởi 107 loi phin não khác.

Chính vì bị nhng phin não này điu khin, chúng ta phi chu kh đau sut cuc đi, và cuối cùng chết đi trong đau đn.

Vậy, làm thế nào đ thoát khi nhng kh đau này?

Pht giáo chính là con đường giúp con người gii thoát khi đau kh và đt được hnh phúc chân tht.

3. Dit Đế là gì?

Dit Đế (滅諦 – Mettai)chân lý v hnh phúc chân tht.

Từ khi sinh ra, con người luôn sng trong đau kh và mê mui, vì vậy không ai thc s biết hnh phúc chân tht là gì.

Tất cả các lĩnh vực như chính tr, kinh tế, khoa hc, y hc đều hướng đến mục tiêu mang li hnh phúc cho con người.

  • Chính tr cố gắng giảm thiểu chiến tranh.
  • Kinh tế cố gắng tăng cường nguồn cung lương thực.
  • Khoa hc cố gắng cải thiện đời sống con người.
  • Y hc cố gắng giảm bớt bệnh tật.

Tuy nhiên, hnh phúc thc s vn là th con người chưa th nm bt được.

Hnh phúc là gì?

Trong suốt hơn hai nghìn năm, các nhà triết học đã cố gắng định nghĩa hnh phúc chân tht:

  • Có phi đó là vic trau di đo đc?
  • Hay là đt được trng thái thư thái v tinh thn?
  • Hay là biết chp nhn và hài lòng vi hoàn cnh hin ti?
  • Hay là gi tâm luôn bình thn trước mi biến đng?

Nhưng cho đến nay, con người vẫn chưa có câu trả lời chính xác cho câu hỏi hnh phúc thc s là gì.

Nhà triết học Thụy Sĩ Carl Hilty đã viết trong cuốn “Lun v hnh phúc” rằng:

“Không có ai là không mong cu hnh phúc.”
“Không có tư tưởng nào ph biến hơn mong mun được hnh phúc.”
“Tuy nhiên, ni dung ca hnh phúc là gì, và liu hnh phúc có th tìm thy trong thế gii này hay không, vn còn là mt câu hi chưa có s đng thun.”

(Trích t “Lun v hnh phúc” – Carl Hilty)

Tâm lý hc cũng tìm kiếm hnh phúc

Ngay cả trong tâm lý học, có nhiều giả thuyết về hnh phúc thc s:

  • Phi chăng hnh phúc là s tha mãn dc vng?
  • Hay đó là khi con người đm chìm trong đam mê và đt được trng thái “dòng chy” (flow)?
  • Hay là cm giác có ý nghĩa khi bn thân hòa vào mt điu gì đó ln lao hơn chính mình?

Mặc dù tt c nhng điu này đu có th mang li hnh phúc, nhưng chúng ch là nim vui tm thi, không phi hnh phúc vĩnh hng.

Hnh phúc chân tht theo Đc Pht

Mặc dù con người đã suy ngm và truy cu hnh phúc sut hàng nghìn năm, nhưng hnh phúc thc s là gì vn còn là mt câu hi chưa có li gii đáp.

Vì vậy, Đức Phật đã giảng dạy rằng:

“Có mt trng thái hnh phúc không bao gi thay đi, đó là thế gii nơi phin não đã được dit tr hoàn toàn – Niết Bàn (涅槃 – Nirvāa).”

Đây chính là mc tiêu ti thượng ca Pht giáo.

Tuy nhiên, vì con người vốn không th hoàn toàn dit tr phin não, nên Đức Phật đã dạy rằng chúng ta có th đt được mt trng thái hnh phúc chân tht ngay trong cuc sng này.

Vậy hnh phúc chân tht đó là gì?

Hãy cùng tìm hiểu trong phần tiếp theo.

4. Đo Đế là gì?

Đo Đế (道諦 – Dōtai)chân lý v con đường dn đến hnh phúc chân tht.

Theo nghĩa hẹp, Đạo Đế chính là Bát Chánh Đo (八正道 – Hasshōdō), con đường đầu tiên mà Đức Phật đã giảng dạy.

Trong kinh điển, Đạo Đế được giảng như sau:

“Thế nào là Chân lý v con đường dit kh (Kh Dit Đo Thánh Đế苦滅道聖諦)?”
“Đó là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ng, Chánh Nghip, Chánh Mng, Chánh Tinh Tn, Chánh Nim, Chánh Đnh.”

Như vậy, Đo Đế chính là Bát Chánh Đo, con đường giúp con người dit tr phin não và đt được hnh phúc chân tht.

(→ Tìm hiểu thêm về Bát Chánh Đạo TẠI ĐÂY)

Nhng con đường khác Đc Pht đã ging dy

Ngoài Bát Chánh Đo, Đức Phật còn giảng dạy nhiu phương pháp thc hành thin nghip khác để giúp con người hướng đến giải thoát.

Khi thực hành theo giáo pháp của Đức Phật, con người sẽ dần nhận ra bn cht tht s ca chính mình, vốn bị che lấp bởi phiền não.

Nhờ đó, chúng ta sẽ thy được tn gc r ca kh đau, thứ mà nếu không nghe Phật pháp, chúng ta s không bao gi nhn ra.

Và cuối cùng, con đường này s dn chúng ta đến hnh phúc chân tht, gii thoát khi kh đau ca cuc đi.

 

Leave a Reply