Tạm Tạng Pháp Sư là gì? Đường Tam Tạng trong Tây Du Ký là ai?

Nếu như các bạn đã từng xem phim hoặc đọc cuốn tiểu thuyết “Tây Du Ký”, chắc hẳn các bạn cũng đã biết đến nhân vật chính là “Trần Huyền Trang” hay “Đường Tam Tạng” đúng không? Bộ phim kể về chuyến hành trình đầy gian nan của Pháp Sư Huyền Trang trên đường đi từ Trung Quốc sang Ấn Độ để thỉnh kinh. 

Các bạn có thắc mắc chữ “Tam Tạng” trong “Đường Tam Tạng” nghĩa là gì không? Đó chính là danh xưng của các vị Pháp Sư thời bấy giờ (và vẫn được sử dụng đến cả ngày nay).

Hãy cùng tìm hiểu “Tam Tạng Pháp Sư” là gì và những người như thế nào thì được gọi là “Tam Tạng Pháp Sư”.

Tam tạng Pháp Sư trong Tây Du Ký

Tam-Tang-Phap-Su-la-ai

Đầu tiên, hãy cũng tìm hiểu về Tam Tạng Pháp Sư hay còn được gọi là “sư phụ” trong Tây Du Ký. Tây Du Ký là một câu chuyện tiểu thuyết không có thật, được viết vào thế kỷ thứ 16 tại Trung Quốc, gồm 4 nhân vật chính là Tam Tạng Pháp Sư – người có tên đầy đủ là Trần Huyền Trang và 3 người đệ tử là Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Ngộ Tĩnh.

4 người này cùng với 1 chú ngựa trắng tên là Bạch Long Mã từ Trung Quốc tìm đường sang Ấn Độ – quê hương của Phật Giáo để xin kinh Phật mang về truyền bá tại Trung Quốc. Tiểu thuyết kể về quãng đường thỉnh kinh đó và được xây dựng hoàn toàn do trí tưởng tượng của tác giả. Tuy nhiên, nhân vật Trần Huyền Trang trong truyện là một nhân vật có thật.

Tam Tạng Huyền Trang là có thật

Tam Tạng Pháp Sư Trần Huyền Trang là người sinh năm 602, mất năm 664 vào thời nhà Đường của Trung Quốc. Ông xuất gia năm 11 tuổi và đã đi nhiều vùng tại Trung Quốc để theo học những vị cao tăng.

Ở thời nhà Đường khi đó, việc đi ra nước ngoài bị cấm. Tuy nhiên, vào năm 26 tuổi, ông đã phá bỏ luật lệ và một mình tìm đường đến Ấn Độ.

Trong Tây Du Ký, Huyền Trang là một nhân vật có vẻ “yếu ớt”, tuy nhiên trên thực tế, ông là một người rất mạnh mẽ, có thể một mình vượt qua sa mạc Gobi.

Sau khi đến Ấn Độ, Huyền Trang đã được học, mở mang thêm nhiều kiến thức về Phật Pháp. Đến năm 40 tuổi, ông quyết định trở về Trung Quốc để truyền đạt lại kiến thức đã học cho mọi người.

Ông lên đường trở về Trung Quốc với số lượng Kinh Phật được viết bằng tiếng Phạn được chất lên 22 con ngựa.

Trải qua rất nhiều khó khăn trong đó có cả lần thuyền bị chìm trên sông Indus và bị mất rất nhiều quyển Kinh, cuối cùng đến năm 43 tuổi ông cũng về đến Trung Quốc.

Đường Thái Tông – Hoàng đế khi đó của nước Đường rất chờ đợi sự trở về của ông và đã tạo điều kiện để ông dành hết thời gian dịch chỗ Kinh Phật đó sang tiếng Trung.

Huyền Trang đã dịch rất nhiều bộ Kinh Phật nổi tiếng trong thời gian này. Tiêu biểu phải kể đến như “Giải thâm mật kinh”, “Đại bát nhã kinh”, “Bát nhã tâm kinh”, “Câu xá luận”, “Duy thức tam thập tụng”, “Duy thức nhị thập tụng”, “Du già sư địa luận”,..

Bản dịch của Huyền Trang được đánh giá rất cao thời bấy giờ. Sau Huyền Trang, có nhiều dịch giả khác cũng dịch lại Kinh Phật. Những bản dịch sau được gọi là “Bản dịch mới”, còn bản của Huyền Trang được gọi là “Bản dịch cũ”.

Sau này, đệ tử của Huyền Trang là Từ Ân đã mở ra Pháp Tướng Tông (một tông phái của Phật giáo). Và Huyền Trang được xem là sư tổ của tông phái này.

Huyền Trang là một trong những người được gọi là “Tam Tạng Pháp Sư”. Vậy Tam Tạng Pháp Sư là những người như thế nào?

Tam Tạng Pháp Sư là gì?

Tam-tang-phap-su-la-ai-2

“Tam Tạng” trong “Tam Tạng Pháp Sư” chính là “Kinh Tạng”, “Luật Tạng” và “Luận Tạng”. Chữ “Tạng” trong tiếng Hán là kho, nơi cất giữ,..

Kinh Tạng là những bài Kinh được Phật truyền đạt lại.

Luật Tạng là những Giới Luật được Phật giảng giải.

Luận Tạng là những lời giải thích dựa trên lời dạy của Đức Phật. 

Những sư thầy tinh thông cả 3 thứ này thì được gọi là Tam Tạng Pháp Sư.

Với khối lượng kiến thức khổng lồ của Đạo Phật, muốn hiểu rõ 1 phần như Kinh Tạng hoặc Luật Tạng thôi đã là rất khó và việc hiểu rõ cả 3 thứ là một điều vô cùng khó.

Tuy nhiên, ngoài Huyền Trang còn có nhiều vị Pháp Sư khác được gọi là Tam Tạng Pháp Sư. Ở thời kì này, những vị Tam Tạng Pháp Sư không chỉ tinh thông Tam Tạng mà do các tài liệu đều được viết bằng tiếng Phạn, nên họ cũng đều là những người hiểu được rất rõ ngôn ngữ của tiếng Trung và tiếng Phạn.

Có thể nói, Huyền Trang là Tam Tạng Pháp Sư được biết đến nhiều nhất hiện nay. Nhưng bên cạnh Huyền Trang, còn có một người khác nổi tiếng không kém đó chính là Cưu Ma La Thập.

Cưu Ma La Thập – vị Tam Tạng Pháp Sư nổi tiếng thứ 2

Cưu Ma La Thập sinh ra trước thời của Huyền Trang. Ông sinh năm 344 và mất năm 413. Ông được mệnh danh là thiên tài ngôn ngữ và cũng đã dịch không ít Kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc.

Hiện nay, những bản dịch của Cưu La Ma Thập người ta gọi là “bản dịch cũ”, còn bản dịch của Huyền Trang gọi là “bản dịch mới”. Vì Kinh Phật của Việt Nam chúng ta được dịch theo tiếng Trung, nên chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào sự khác nhau giữa 2 bản dịch này.

Ví dụ từ “Quan Âm Bồ Tát” thì Cưu Ma La Thập dịch là “Quan Thế Âm Bồ Tát” còn Huyền Trang dịch là “Quan Tự Tại Bồ Tát”. Hoặc Bồ Tát Thế Thân (Vasubandhu) thì Cưu Ma La Thập dịch là “Thiên Thân Bồ Tát”, trong khi đó Huyền Trang dịch là “Thế Thân Bồ Tát”.

Ngoài ra còn có rất nhiều dịch giả nổi tiếng khác như Ma La Mật Đa, Nghĩa Tĩnh.

Tính cho đến hiện nay, có khoảng 170 người được gọi là Tam Tạng Pháp Sư. Vậy vị Tam Tạng Pháp Sư đầu tiên được công nhận là ai?

Vị Tam Tạng Pháp Sư đầu tiên

Vị Tam Tạng Pháp Sư đầu tiên xuất hiện vào thời kì nhà Hán. Hán Minh Đế – vị vua thứ 2 của nhà Hán đã nằm mơ thấy có một người với ánh sáng hào quang màu vàng bay từ phía Tây đến, sau đó dừng lại trước vườn nhà. Tin rằng phía Tây có Phật, nên nhà vua đã sai sứ giả đi về phía Tây và mời 2 thầy sư người Ấn Độ về Lạc Dương.

2 thầy sư đó chính là Ca Diếp Ma ĐằngTrúc Pháp Lan. 2 người này đã dịch “Tứ Thập Nhị Chương Kinh” sang tiếng Trung Quốc và truyền đạt văn hóa các nghi lễ Phật Giáo sang Trung Quốc. 

Đây là câu chuyện rất nổi tiếng về việc Phật giáo du nhập vào Trung Quốc như thế nào. Và 2 người này cũng là 2 vị Tam Tạng Pháp Sư đầu tiên được công nhận trên thế giới. Và cũng từ thời điểm này, Phật Giáo dần dần trở thành một tôn giáo phổ cập trên toàn thế giới. Thời gian 2 vị Tam Tạng Pháp Sư này đến Lạc Dương là vào năm 67 sau Công Nguyên. 

Con đường Pháp Sư Tam Tạng đã đi qua

Bản đồ Tây Vực ở thế kỉ thứ nhất TCN

Trung Quốc và Ấn Độ là 2 quốc gia cách xa nhau về địa lý. Do đó, để truyền tải được Phật Giáo cũng không phải là vấn đề đơn giản. Những người từ Trung Quốc đi sang Ấn Độ đều phải xác định và bất chấp mọi nguy hiểm liên quan đến tính mạng của mình.

Nhà sư đầu tiên của Trung Quốc quyết định sang Ấn Độ là Zhu Zixing, đó là vào thời kì Tam Quốc. Do muốn được tận mắt nhìn thấy “Tiểu Phẩm Bát Nhã Kinh” nguyên gốc nên năm 260 ông đã quyết định lên đường đi Ấn Độ.

Sau một thời gian dài vất vả tìm đường sang Ấn Độ, cuối cùng ông cũng tìm được bộ Kinh nguyên gốc. Tuy nhiên, do tuổi cao sức yếu ông đã mất trên đường trở về khi 80 tuổi. Như vậy, chúng ta có thể thấy được sự vất vả và khó nhọc để đi được từ Trung Quốc sang Ấn Độ thời bấy giờ.

Trên thực tế, có rất nhiều Tam Tạng Pháp Sư đã lên đường từ Trung Quốc sang Ấn Độ. Có 2 cách để đi, đó là đường bộ và đường thủy. Đường bộ đã nguy hiểm rồi, đường thùy còn nguy hiểm hơn, do đó thời gian đầu hầu hết mọi người đều sử dụng đường bộ.

Có 2 đường bộ chính để đi từ Trung Quốc sang Ấn Độ. Con đường thứ nhất gọi là “Tây vực Bắc Đạo” đi vòng qua phía Bắc của sa mạc Taklamakan, và con đường thứ hai là đi vòng xuống phía Nam. Vào thời nhà Đường, khi Pháp Sư Huyền Trang đi thỉnh kinh, thì cứ 3 người đi sẽ có một người bị chết giữa đường.  

Vào thời kì Nam Tống, đường thủy mới bắt đầu được các Pháp sư Tam Tạng sử dụng. Những Pháp Sư Tam Tạng đầu tiên sử dụng đường biển thời bấy giờ phải kế đến Cầu Na Bạt Đà La hoặc Ba La Mật Đa thời nhà Lương.

Trước Trần Huyền Trang, có một vị Pháp Sư Tam Tạng rất nổi tiếng khác cũng đã đi từ Trung Quốc sang Ấn Độ bằng đường bộ. Đó là Pháp Hiển vào thời kì Đông Tấn. Ông xuất phát từ Trường An năm 399, và đến Ấn Độ sau 6 năm di chuyển. Khi về ông sử dụng đường biển và về đến Trung Quốc năm 422. Việc này được ghi lại trong quyển “Phật Quốc Ký” và trong đó có ghi rằng chỉ có một mình Pháp Hển trở về được Trung Quốc khi đó.

Hồi đó, đường thủy vẫn còn rất nguy hiểm. Sau thời kì nhà Đường, các Tam Tạng Pháp Sư mới bắt đầu sử dụng đường thủy một cách rộng rãi hơn. Nghĩa Tịnh là một Pháp Sư nổi tiếng thời nhà Đường, ông đã sử dụng đường biển để đi từ Trung Quốc sang Ấn Độ cả 2 chiều và chuyến đi của ông được ghi lại chi tiết trong “Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyền”.

TỔNG KẾT

Chúng ta có thể thấy được những người được gọi là “Tam Tạng Pháp Sư” thời xưa không chỉ tinh thông Tam Tạng, có khả năng ngôn ngữ thiên tài, mà họ còn phải rất nỗ lực, bất chấp mọi nguy hiểm đến tính mạng để mang được Kinh Phật từ Ấn Độ trở về.

Nhưng cũng chính nhờ có những người như vậy mà Phật giáo đã trở nên phổ biến như ngày nay và cũng chính nhờ Phật giáo nhiều người đã có được một cuộc sống hạnh phúc hơn.

No Responses

Leave a Reply